Cẩm nang thuốc thú y
Các bệnh thường gặp ở chim bồ câu
(13/03/2019)

1. Bệnh thương hàn (Salmonellosis)

Bệnh thương hàn ở bồ câu đã được phát hiện và nghiên cứu ở Hoa Kỳ và một số nước châu Âu (Pomeroy và Nagaraja, 1991). Đây là một bệnh chung của bồ câu, gà, ngan, ngỗng, vịt với hội chứng viêm ruột, tiêu chảy.
 

Nguyên nhân

Bệnh gây ra do vi khuẩn Salmonella galỉinacerum và s. enteritidis thuộc họ Enterbacteriacae. Vi khuẩn là loại trực khuẩn nhỏ, ngắn, thường chụm 2 vì khuẩn với nhau, không sinh nha bào và nang (Copsule). Vi khuẩn có thể nuôi cấy, phát triển tốt ở môi trường peptone, độ pH = 7,2 nhiệt độ thích hợp 37°C.

Vi khuẩn sẽ bị diệt ở nhiệt độ 60°C trong 10 phút, dưới ánh sáng mặt trời trong 24 giờ. Nhưng có thể tồn tại 20 ngày khi đặt trong bóng tối. Các hoá chất thông thường diệt được vi khuẩn như: acid phenol 1/1000; chlorua mercur 1/20.000; thuốc tím 1/1000 trong 3 – 5 phút.

Bệnh lý và lâm sàng

Trong tự nhiên có một số chủng Salmonella gallinacerum có độc lực mạnh, để gây bệnh cho bồ câu nhà, bồ câu rừng, gà, vịt và nhiều loài chim trời khác.

Bồ câu thưòng nhiềm vi khuẩn qua đường tiêu hoá. Khi ăn uống phải thức ăn hoặc nước uống có vi khuẩn, bồ câu sẽ bị nhiễm bệnh. Vi khuẩn vào niêm mạc ruột, hạch lâm ba ruột, phát triển ở đó và tiết ra độc tố Sau đó, độc tố vào nước, tác động đến hệ thần kinh trung ương, gây ra biến đổi bệnh lý như nhiệt độ cơ thể chim bồ câu tăng cao, run rẩy. Vi khuẩn phát triển trong hệ thông tiêu hoá gây ra các tổn thương niêm mạc ruột, cơ ruột, làm cho ruột bị viêm và xuất huyết. Trong trường hợp bệnh nặng, vi khuẩn xâm nhập vào máu gây ra hiện tượng nhiễm trùng máu.

Bồ câu có thời gian ủ bệnh từ 1 – 2 ngày, thể hiện là ít hoạt động, kém ăn, uống nước nhiều. Sau đó, thân nhiệt tăng, chim đứng ủ rũ một chỗ, thớ gấp, đặc biệt là tiêu chảy, phân màu xanh hoặc xám vàng, giai đoạn cuối phân có lẫn máu. Chim sẽ chết sau 3 – 5 ngày.

Khi mổ khám chim bệnh sẽ thấy: Các niêm mạc bị sưng huyết; niêm mạc diều, dạ dày tuyến và ruột tụ huyết từng đám. Ở ruột non và ruột già còn thấy niêm mạc bị tổn thương, tróc ra và có các điểm hoại tử ở phần ruột gà. Chùm hạch lâm ba ruột cũng bị tụ huyết.

Đặc điểm dịch tễ

Hầu hết các loài gia cầm như: Bồ câu, gà, vịt, ngan, chim cút…cũng như nhiều loại chim trời đều nhiễm chủng s. gallinacerum và bị bệnh thương hàn. Các nhà khoa học đã làm các thực nghiệm tiêm truyền s. gallinacerum cho 382 loài chim thuộc 20 nhóm chim, kết quả có 367 loài bị phát bệnh, chiếm tỷ lệ 96%.

Chim ở các lứa tuổi đểu có thê bị nhiễm vi khuẩn. Nhưng chim non dưới một năm tuổi thì phát bệnh nặng và chết với tỷ lệ cao (50 – 60%).

Bệnh này lây chủ yếu qua đường tiêu hoá. Nhưng cũng lây qua trứng khi bồ câu mẹ bị nhiễm bệnh. Ở các khu vực nuôi gà cùng với bồ câu trong cùng chuồng trại và môi trường sinh thái, bồ câu thường bị lây nhiễm mầm bệnh từ gà bệnh.

Bệnh có thể lây nhiễm quanh năm. Nhưng thường thấy vào các tháng có thời tiết ấm áp và ẩm ướt trong mùa xuân, đầu mùa hè và cuối mùa thu.

Chẩn đoán bệnh: Có hai phương pháp là

+ Chẩn đoán lâm sàng: Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng: Chim ốm có tính chất lây lan với biểu hiện như ỉa lỏng, phân xám vàng hoặc xám xanh, có lẫn máu. Khi mổ khám chim ôm thấy tình trạng: Tụ huyết, xuất huyết và tổn thương các niêm mạc đường tiêu hoá.

+ Chẩn đoán vi sinh vật: Thu thập bệnh phẩm, nuôi cấy để phân lập vi khuẩn s. gallinacerum.

Phương pháp điều trị thực hiện các phác đồ điều trị

+ Phác đồ 1:

Dùng thuốc điều trị: Chloramphenicoldùng liều 50mg/kg thể trọng, thuốc pha với nưóc theo tỷlệ 1 thuốc + 10 nước; cho chim uống trực tiếp. Cho uống thuốc liên tục trong 3 – 4 ngày.

Thuốc trợ sức: Cho uống thêm vitamin B, C, K.

Hộ lý: Để tránh tổn thương niêm mạc tiêu hoá, cần cho chim ăn thức ăn mềm dễ tiêu như thức hỗn hợp dạng bột hoặc trong thời gian điều trị; thực hiện cách ly chim ốm và chim khoẻ; làm vệ sinh, tiêu độc chuồng trại.

+ Phác đồ 2:

Dùng thuốc điều trị: Dùng phối hợp hai loại thuốc: Tetracyclin: Liều 50 mg/kg thể trọng. Bisepton: liều 50 mg/kg thể trọng.

Khi dùng thuốc đều trị cho chim bồ câu bị bệnh có thể pha thành dung dịch đổ cho chim uống trực tiếp, liên tục trong 3 – 4 ngày.

Thuốc trợ sức: Như phác đồ 1.

Hộ lý: Như phác đồ 1.

Cách phòng bệnh

+ Khi có bệnh xảy ra cần cách ly chim ốm để điều trị, khi chim ốm bị chết thì phải chôn có đổ vôi bột hoặc nước vôi 10%, không được mổ chim ốm gần nguồn nước và khu vực nuôi chim. Toàn bộ số chim trong chuồng có chim ốm cho uống dung dịch chloramphenicol 2/1000 hoặc sulfa me thazone 5/1000 trong 3 ngày liền.

+ Khi chưa có dịch: cần thực hiện vệ sinh chuồng trại và vệ sinh môi trường; nuôi dưỡng chim với khẩu phần ăn thích hợp và đảm bảo thức ăn, nước uống sạch.

2. Bênh giả lao ở bồ câu (Pseudotuberculosis)

Bệnh giả lao ở các loài gia cầm và chim hoang, trong đó có bồ câu đã được biết đến từ lâu, nhưng đến 1904 nhà khoa học Kynyoun (1904) mới phân lập được vi khuẩn gây bệnh, gọi là Yersinia pseudofcuberculosis (vi khuẩn giả lao).

Nguyên nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh giả lao ở bồ câu là Yersinia pseudotuberculosis. Vi khuẩn này có các đặc tính gần giống với ví khuẩn tụ huyết trùng nên còn gọi là Pasteurella pseudotuberculosis. Vi khuẩn gram âm, tròn hai đầu, có kích thước 0,5 x 0,8 – 5 (am, còn gọi là vi khuẩn lưỡng cực vì khi nhuộm bắt màu sẫm ở hai đầu. Vì khuẩn phát triển tốt trên môi trường thạch pepton, thạch máu có thêm một số acid amin và thích hợp ở nhiệt độ 37ºC.

Vi khuẩn dễ dàng bị tiêu diệt dưới ánh sáng mặt trời, ở nhiệt độ 60°c hoặc làm khô. Nhưng có thể bảo quản hàng năm trong môi trường thạch để ở nhiệt độ lạnh.

Hiện có 6 serotyp vi khuẩn đã được xác định là typ I, II, III, IV, V, VI và 8 subtyp gây bệnh cho một số loài chim và thú.

Tình trạng bệnh lý và lâm sàng

Chim bị nhiễm vi khuẩn chủ yếu qua đường tiêu hoá. Vi khuẩn tồn tại và lưu hành trong môi trường tự nhiên và thức ăn. Khi chim ăn dùng phải thức ăn nước uống bị nhiễm vi khuẩn thì sẽ bị mắc bệnh. Vì khuẩn cũng xâm nhập vào cơ thể chim qua đường hô hấp, do hít thở không khí có vi khuẩn.

Khi vào cơ thể chim, vi khuẩn nhanh chóng xâm nhập vào hệ thống hạch làm ba, phát triển nhanh số lượng, rồi vào máu, đến các phủ tạng như gan, lách, phổi, thận và ruột. Các trường hợp bệnh cấp tính, vi khuẩn tăng sốlượng, rồi vào máu, đến các phủ tạng như gan, lách, phổi, thận và ruột. Các trường hợp bệnh cấp tính, vi khuẩn tăng số lượng rất nhanh trong máu, gây nhiễm trùng huyết. Khi đến các phủ tạng, vi khuẩn sẽ tồn tại ở đó gây ra hiện tượng viêm nhiễm với các hạt nhỏ có chứa bựa vàng xám, giống như các hạt lao dạng “lao kê”. Các hạt này đôi khi cũng có ở tổ chức cơ.

Chim nhiễm mầm bệnh có thời gian ủ bệnh ngắn, chỉ 1 – 2 ngày. Chim bệnh có biểu hiện tăng thân nhiệt, bỏ ăn, niêm mạc tụ huyết đỏ sẫm, mắt nhắm, đứng ủ rủ, thở khó, chảy nước mũi, nước mắt; sau đó xuất hiện ỉa chảy phân xanh vàng. Bệnh tiến triển nhanh. Chim bệnh chết sau 2 – 4 ngày, từ khi xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng đầu tiên.

Khi mổ chim bị bệnh thấy: Bao tím có tụ huyết, có dịch vàng, phổi, lách, gan và các niêm mạc có tụ máu. Các phủ tạng và đôi khi ở cơ còn có các hạt giống như hạt kẻ, hoại tử có màu vàng xám. Các trường hợp nhiễm trùng huyết thấy: Máu đỏ sẫm, chậm đông, các niêm mạc bị tím đỏ.

Trong dịch tể học

Trong tự nhiên, nhiều loài gia cầm và chim trời bị bệnh giả lao như gà nhà, gà rừng, ngỗng, vịt, gà tây, bồ câu, vẹt… Nhiều loại thú nhỏ cũng có thể bị nhiễm pseudotuberculosis như: Khỉ, chuột lang, thỏ, chuột bạch…khi tiêm truyền thực nghiệm.

Bồ câu non dưới một năm tuổi thường nhiễm vi khuẩn và bị bệnh thể cấp tính.

Bệnh thường phát ra và lây lan trong đàn chim khi thời tiết lạnh và ẩm ướt.

Chẩn đoán

+ Chẩn đoán lâm sàng. Căn cứ vào các dấu hiệu lâm sàng và bệnh tính đặc trưng để chẩn đoán: Bệnh tiến triển nhanh với các triệu chứng như thở khó, chảy rãi rớt, tiêu chảy phân xanh vàng hoặc vàng đục. Khi mổ khám chim bị bệnh có các đám tụ huyết ở các nội tạng, đặc biệt có các hạt nhỏ hoại tử có bựa vàng xám.

+ Chẩn đoán vi sinh vật. Cần phân lập, xác định vi khuẩn từ các mẫu bệnh phẩm là dịch xuất tiết hoặc phủ tạng chim bị bệnh.

Cách thức điều trị

Khi điều trị bện này ít có hiệu quả vì bệnh tiến triển nhanh. Khi phát hiện các dấu hiệu lâm sàng đầu tiên thì chim đã bị rất nặng nên khó chữa. Khi phát hiện một vài con chim bị bệnh thì cần phải điều trị có tính chất phòng ngừa cho toàn đàn.

Thực hiện các phác đồ điều trị:

Thuốc điều trị: Phối hợp hai loại thuốc sau:

Kanamycin 2g.

Tetracyclin 2g.

Nước 100oml.

Cho toàn đàn chim uống liên tục từ 3 – 4 ngày.

+ Thuốc trợ tim mạch: Tăng sức đề kháng thì cho uống hoặc trộn thức ăn các vitamin B1, K, A, D, E.

+ Công tác hộ lý: Cho chim ăn thức ăn dễ tiêu, bớt ăn các loại hạt.

Thực hiện các biện pháp phòng bệnh

+ Thực hiện cho chim ăn sạch, uống sạch.

+ Giữ gìn vệ sinh chuồng trại và môi trường sống của chim, cần làm vệ sinh và tiêu độc theo định kỳ.

+ Khi có dịch bệnh xảy ra: Phát hiện sớm chim bệnh để cách ly điều trị hoặc xử lý, tránh lây nhiễm cho cả đàn chim.

+ Tổ chức tiêm vác-xin phòng bệnh cho cả đàn chim trưởng thành khi có vacxin phòng bệnh giả lao.

3. Bệnh viêm đường hô hấp màn (Mycoplasmosis)

Ở nhiều cơ sở nuôi chim bồ câu thịt và bồ câu cảnh thuộc các nước Mỹ, Pháp, Hà Lan…người ta đã phát hiện bệnh viêm đường hô hấp man do Mycoplasma gây ra. Tuy nhiên, bệnh không lưu hành rộng như bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà nuôi theo phương thức công nghiệp.

Nguyên nhân gây bệnh

Đến nay, ngươi ta đã phân lập, đặt tên được 19 chủng thuộc Mycoplasma gây bệnh cho các loài gia cầm như: Gà, gà tây, ngỗng, vịt và bồ câu. Trong số đó có 3 chủng gây bệnh được phân lập từ bồ câu là: Mycoplasma columbinasale; M. columbinum và M. columborale.

Trong đó, Mycoplasma là vi sinh vật có kích thước nhỏ trung gian giữa vi khuẩn và virus, khoảng 0,2 – 0,5 mm; bắt màu hồng khi nhuộm Giemsa; có thể nuôi cấy trên một số môi trường đặc biệt và khuẩn lạc mọc chậm sau 10 – 15 ngày. Mycoplasma cũng mới cấy được trên màng của phôi trứng gà.

Bệnh lý và lâm sàng

Mycoplasma có thể xâm nhập vào cơ thể chim qua niêm mạc đường hô hấp như niêm mạc mũi và phế quản khí hít thở không khí có mầm bệnh. Từ niêm mạc, Mycoplasma tiến đến các hạch lâm ba đường hô hấp như hạch hầu, hạch phổi, phát triển ở đó rồi vào các phếnang. Đối với những con chim khoẻ, được nuôi dưỡng tốt, trong các điều kiện sinh thái thích hợp thì mầm bệnh không gây tác hại rõ rệt, chỉ tồn tại trong trạng thái mang trùng của chim. Khi các điều kiện sinh thái thay đổi, có các yếu tố stress làm giảm sức đề kháng của chim thì Mycoplasma bắt đầu gây ra các biến đổi bệnh lý ở đường hô hấp của chim.

Chim bị bệnh sẽ có các dấu hiệu đầu tiên như chảy nước mũi, nước mắt, ăn kém. Sau đó, xuất hiện tình trạng thỏ khó, thở nhanh… Hiện tượng này tăng dần và chim gầy dần, giảm tăng trọng rõ rệt. Các trường hợp cấp tính chim sẽ chết sau 10 – 15 ngày và thường thấy ở chim non từ 1 – 4 tháng tuổi. Ở chim bị bệnh mãn tính, thời gian hành bệnh kéo dài hàng tháng với các triệu chứng thở khó, gầy rạc. Các trường hợp bị nhiễm khuẩn đường hô hấp thứ phát do các liên cầu (Streptococcus) tụ cầu (Staphilococcus) và Heamophilus spp chim bị viêm phế quản phổi nặng và chết nhanh sau 10 – 12 ngày.

Khi mổ khám chim bị bệnh thì người nuôi sẽ thấy bệnh tính tập trung ở đường hô hấp, phổi tụ máu, có dịch nhày trong các phế quản và phê nang; hạch phôi sưng thủng, có tụ huyết rõ rệt.

Theo dịch tễ học

Bệnh thường thấy à bồ câu trong điều kiện chăn nuôi nhốt và tập trung. Không khí nóng ẩm hoặc lạnh ẩm cũng sẽ làm giảm sức đề kháng của chim.

Bồ câu nội rất ít bị bệnh viêm đường hô hấp mãn tính mà bệnh thường xảy ra ở các giống bồ câu thịt, bồ câu cảnh nhập nội, chưa thích nghi với các điều kiện sống mới. Bệnh thường thấy ở bồ câu non từ 1 – 6 tháng. Bồ câu trưởng thành có sức đề kháng với bệnh.

Chẩn đoán

+ Chẩn đoán lâm sàng: Căn cứ theo các dấu hiệu lâm sàng và bệnh tích thể hiện ở bộ máy hô hấp như thở khó, gầy yếu và suy nhược dần để chẩn đoán.

+ Chẩn đoán ví sinh vật và huyết thanh: Phân lập mầm bệnh từ bệnh phẩm qua các môi trường nuôi cấy; làm các phản ứng huyết thanh học như ngưng kết trực tiếp hoặc gián tiếp để xác định bệnh.

Phương pháp điều trị

Hiện nay, có nhiều loại kháng sinh có thể dùng để điều trị bệnh Mycoplasmosis ở gia cầm và chim trời như:Streptomycin, erytromycin, chlormphenicol, kagnamycin, tylosin, spectinomycin. Nhưng hai loại kháng sinh sau đây được điều trị rộng rãi và cho hiệu quả cao là:

Tylosin: Dùng liều 10mg/kg thể trọng, tiêm bắp thịt hoặc dùng liều 1g pha trong 11 nước cho uống liên tục từ 3 – 5 ngày.

Tiamulin: Dùng liều 15mg/kg thể trọng, tiêm bắp thịt hoặc dùng liều 2g pha trong 11 nước cho uống liên tục từ 3 – 5 ngày.

Bên rạnh đó, cần cho chim bệnh uống hoặc trộn thức án các loại vitamin B1, C, A, D, E để tăng sức đề kháng.

Hộ lý: Cần giữ khu chuồng nuôi bồ câu khô sạch, thoáng mát mùa hè và ấm áp trong mùa đông và cho ăn đúng khẩu phần quy định.

Các biện pháp phòng bệnh

+ Phòng nhiễm bằng hoá dược: Ở nơi có bệnh đang diễn ra thì nên sử dụng hai loại kháng sinh trên hoặc oxytetracylin pha với nước 2g/l nước cho chim uống mỗi tháng một lần; một lần 2 ngày.

+ Thực hiện vệ sinh chuồng trại và môi trường chăn nuôi.

+ Nuôi dưỡng chim với khẩu phần ăn đầy đủ chất dinh dưỡng các vitamin và muôi khoáng.

Bệnh đậu (Pox disease)

Bệnh đậu được phát hiện ở hầu hết các loài gia cầm và chim trời, phân bố rộng khắp ở các châu lục. Trong đó bồ câu là một trong các loài chim thường thấy mắc bệnh đậu gây ra do virus đậu.

Nguyên nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh là một virus thuộc nhóm đậu gà Ayian poxvirus, họ Poxviridac. Hiện nay, người ta phân lập được nhiều chủng virus đậu gây bệnh cho các loài gia cầm và 60 loài chim trời thuộc 20 họ khác nhau, trong đó có chủng gây bệnh cho bồ câu.

Virus đậu rất mẫn cảm với eter và chloroform. Các hoá chất sau đây có thể diệt được virus đây là: Phenol 1 % formalin 1/1000 sau 9 ngày; dung dịch NaOH 1% trong nửa giờ. ở nhiệt độ 600c, virus sẽ bị chết sau 8 phút. Nhưng nếu để trong nhiệt độ lạnh đến âm độ virus có thể tồn tại hàng năm.

Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng

Virus xâm nhập vào cơ thể bồ câu chủ yếu qua tiếp xúc ngoài da. Virus cũng xâm nhập niêm mạc đương hô hấp như niêm mạc mũi, niêm mạc phế quản khi bồ câu hít thở không khí có nhiễm mầm bệnh. Virus phát triển ở các tế bào biểu bì da, xung quanh các bao lông và niêm mạc miệng, vòm khẩu cái, tạo ra các nốt sùi đặc trưng cho bệnh đậu. Đầu tiên virus làm xuất hiện các nôt đậu đỏ, sau mọng mủ trắng, vỡ ra, chảy dịch vàng, để lại nốt loét trên niêm mạc hoặc trên mặt da, đóng vảy màu nâu. Các mụn đậu cũng lan đến niêm mạc mắt, sưng to, vở ra làm nổ mắt vật bệnh.

Biến chứng nguy hiểm cho chim bị bệnh là các mụn đậu phát triển ở phếquản phổi, gây viêm phổi cấp do bội nhiễm các vi khuẩn đường hô hấp. Một số trường hợp, virus đậu còn xâm nhập đường tiêu hoá, gây các tổn thương niêm mạc dạ dày và ruột. Chim bệnh có biến chứng hô hấp hoặc tiêu hoá sẽ phát bệnh nặng, chết trong khoảng thời gian 3 – 5 ngày và tỷ lệ chết 100%. Bình thường chim bị bệnh đậu có các biểu hiện lâm sàng cũng như các mụn đậu sẽ giảm dần và hồi phục sức khoẻ sau 7-10 ngày, tỷ lệ chết 15 – 20%.

Dịch tễ học

Chim ở các lứa tuổi đểu có thể mắc bệnh đậu. Nhưng thường thấy ở chim non từ 1 – 6 tháng bị nhiễm bệnh nhiều hơn.

Mỗi loài chim hoặc họ chim đều có các chủng virus gây bệnh riêng biệt. Nhưng các chủng virus này cũng có thể nhiễm chéo giữa các giống loài động vật. Chẳng hạn virus đậu gà (Ayian poxvirus) có thể gây nhiễm cho bồ câu và ngược lại.

Trong đó, bệnh đậu cũng là một trong các bệnh virus phổ biến gây nhiều thiệt hại cho bồ câu non. Bệnh đậu phát triển quanh năm. Nhưng thường xuất hiện nhiều vào mùa xuân có khí hậu ấm, ẩm ướt và mùa thu chuyển sang mùa đông

Chẩn đoán

+ Chẩn đoán lâm sàng: Có thể quan sát các mụn đậu ở mặt, da và các niêm mạc đường hô hấp trên để xác định bệnh đậu.

+ Chẩn đoán virus: cần phân lập virus hoặc làm phản ứng huyết thanh để chẩn đoán bệnh đậu.

Phương pháp điều trị bệnh

Hiện nay không có thuốc điều tri đặc hiệu cho virus đậu. Nhưng người nuôi có thể sử dụng một số hoá dược bôi trên các mụn đậu để chống nhiễm khuẩn và sử dụng kháng sinh để điều trị chim bị bệnh có hội chứng hô hấp cũng do nhiễm khuẩn.

Có thể dùng thuốc bôi lên các mụn đậu: Bleumethylen 5/1000; Lugol 5/1000, dùng hằng ngày bôi lên các mụn đậu ngoài da của chim bệnh.

Điều trị nhiễm khuẩn thứ phát

+ Sử dụng một trong hai kháng sinh sau đây tiêm hoặc pha nước cho uống:

Tiamulin: Liều 10mg/kg thể trọng, tiêm bắp thịt liên tục 3 – 4 ngày hoặc liều 1g/1 nước cho uống liên tục 3 – 4 ngày.

Oxytetracyclin: Liểư 20mg/kg thể trọng, tiêm bắp liên tục 3 – 4 ngày.

Cần cho chim uống thêm vitamin c, A, D.

Nuôi dưỡng và chăm sóc tốt chim bệnh.

Phương pháp phòng bệnh

+ Phòng bệnh bằng vacxin, tiêm chủng vacxin đậu nhược độc vào dưới da cho chim hoặc nhỏ vào lông cánh và bôi dung dịch vacxin vào đó. Vacxin thường dùng là vacxin virus đậu nhược độc.

+ Đặc biệt, cần thực hiện vệ sinh chuồng trại và môi trường; giữ chuồng luôn khô sạch, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông

 

Biotech-VET tổng hợp.

Bình luận bài viết
Bài viết liên quan
Đăng ký email để nhận bản tin
Nhathuocthuy.vn
Copyright 2016 © Nhathuocthuy
Nhà máy sản xuất: Tdp Hoà Bình (Khu Dâu Tằm), phường Biên Giang, quận Hà Đông, TP. Hà Nội
Điện thoại: 0973 903 952 - 0975 280 111 Website: www.nhathuocthuy.vn
Số chứng nhận ĐKKD: 0101654633
Lượt truy cập: 0356396
Số người đang xem: 012