Kỹ thuật chăn nuôi Thủy sản
Kỹ thuật phòng bệnh và nuôi cá rô đồng tốt nhất
(16/05/2019)

Cá rô đồng là loài cá bản địa nước ngọt được chú ý nghiên cứu phát triển thành đối tượng nuôi ở nhiều loại hình mặt nước như ao, mương vườn, ruộng lúa… với năng suất cao và mang lại nguồn thu nhập lớn cho người nuôi. Trong quá trình nuôi, việc phòng và trị bệnh cho cá là yếu tố quyết định đến năng suất và sản lượng của vụ nuôi.

I. Đặc điểm sinh học của Cá rô đồng

1. Dinh dưỡng

  • Rô đồng là loài cá dữ, ăn tạp, nhưng nghiêng về động vật. Tính dữ được thể hiện khi trong đàn có cá chết, những con sống sẽ tấn công ăn thịt con chết, hoặc trong giai đoạn cá giống khi thiếu thức ăn những con cá lớn sẽ ăn cá nhỏ, đây là một trong những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ sống của cá.
  • Cá rô ăn: tôm, tép, cá con, phù du phiêu sinh vật, động vật không xương sống, côn trùng bay trong không khí, hạt cỏ, thóc; các phụ phẩm nông nghiệp như: cám, gạo, các phế phẩm nhà máy chế biến thủy sản…

2. Sinh trưởng:

Cá rô có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm, sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 60 – 100 g/con.

3. Sinh sản:

  • Ngoài tự nhiên cá có tập tính sinh sản vào mùa mưa. Đầu mùa mưa cá di chuyển từ nơi sinh sống đến những nơi vừa ngập nước sau những cơn mưa lớn đầu mùa như ruộng, ao, đìa… nơi có mực nước 30 – 40 cm để sinh sản. Cá rô đồng không có tập tính giữ con.
  • Khi chiều dài 12 cm cá rô tham gia sinh sản lần thứ nhất, sức sinh sản cá cao đạt 30-40 vạn trứng/kg cá cái. Trứng cá thuộc loại trứng nổi và có màu vàng.

II. Kỹ thuật sinh sản cá rô đồng

1. Nuôi vỗ cá bố mẹ

a. Ao nuôi vỗ

  • Có diện tích từ vài chục đến 300 m 2 ; có thể nuôi vỗ trong bể xi măng, nhưng ở diện tích quá nhỏ số lượng cá nuôi không nhiều, hiệu quả kinh tế không cao, ao quá lớn khi đ á nh bắt cá cho đẻ thu không hết cá thành thục gây lãng phí.
  • Ao nuôi vỗ phải chủ động cấp thoát nước vì môi trường nuôi vỗ dễ bị ô nhiễm do cung cấp thức ăn.
  • Quanh bờ ao có lưới chắn cao cách mặt đất 0,2 - 0,3m giữ không cho cá ra ngoài.
  • Trước khi nuôi vỗ, ao phải được cải tạo bằng các biện pháp như: bơm cạn nước, bắt hết cá tạp, lấp hang mọi, nạo vét bùn đ á y ao nhưng còn chừa lại lớp bùn dày 15 – 20 cm, vệ sinh sạch cây cỏ quanh bờ ao, bón vôi 7 – 10 kg/100 m 2 .
  • Sau khi phơi ao từ 3 – 5 ngày tiến hành lấy nước vào, nước phải lọc qua lớp lưới nhằm ngăn không cho cá tạp theo nước vào ao, 3 ngày sau có thể tiến hành thả cá nuôi vỗ.

b. Cá bố mẹ: Cá mập, khỏe, không dị hình, có trọng lượng từ 50 – 100 g/con.

c. Tỷ lệ cá đực/cái: Cá thả nuôi theo tỷ lệ 1 cá đực: 1 cá cái. Cá đực, cái nuôi chung.

d. Mật độ: Cá được nuôi với mật độ 1 kg/m2.

e. Thức ăn

  • Thành phần: cám 50% + bột cá 50%, có thể thay bột cá bằng cá tươi xay nhuyễn hay cá phế phẩm từ nhà máy chế biến thủy sản.
  • Khẩu phần: 5 – 7% so với trọng lượng đàn cá/ ngày.
  • Cách cho ăn: thức ăn được kết dính bằng bột gòn theo tỷ lệ 10 kg thức ăn trộn với 50 g bột gòn, cho nước vào và vò thành viên đặt trong sàn ăn. Sàn ăn được đặt cố định quanh bờ ao, khoảng cách giữa hai sàn ăn là 7 – 10 m. Mỗi ngày cho ăn 2 lần, sáng sớm và chiều mát.

f. Thay nước

  • Thức ăn có nguồn gốc động vật chiếm tỷ lệ cao nên môi trường ao nuôi dễ bị nhiễm bẩn, do đ ó ao nuôi tốt nhất thay nước theo thủy triều hàng ngày, những ao xa khó lấy nước, định kỳ 7 - 10 ngày thay 1/2 lượng nước.
  • Sau 3 tháng nuôi vỗ, có thể tiến hành cho cá sinh sản được.

2. Cho cá rô sinh sản

a. Tiêu chuẩn cá bố mẹ: Dựa vào các dấu hiệu ngoại hình như sau:

  • Cá đực: mình thon dài, dùng tay vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục có sẹ màu trắng đặc quánh chảy ra là cá đủ tiêu chuẩn cho sinh sản, nếu sẹ chảy ra lẫn nước loãng hoặc không có sẹ chảy ra là cá không đủ tiêu chuẩn cho đẻ.
  • Cá cái: bụng cá to nhô ra hai bên hông của cá, khi dùng tay vuốt nhẹ phần bụng có cảm giác mềm đều và lỗ sinh dục của cá có màu hồng.
  • Sau khi lựa xong, đưa cá vào bể hoặc thau nước sạch cho cá khỏe 2 – 3 giờ trước khi tiêm kích dục tố cho cá đẻ.

b. Kích dục tố

  • Loại kích dục tố: sử dụng phổ biến và có tác dụng gây rụng trứng cá là HCG (Human Chorionic Gonadotropin) và LHRHa + Dom (Lutenizing Hormon Releasing Hormon Analog + Domperidone).
  • Liều lượng tiêm: Cá cái: - HCG tiêm 3.000 – 4.000 UI/kg; LHRHa 80 – 100 mg/kg. Cá đực: liều tiêm cá đực bằng 1/2 liều tiêm cá cái.
  • Vị trí tiêm: tiêm vào phần xoang cơ ở gốc vi ngực hoặc phần cơ ở gốc vi lưng.
  • Số liều tiêm: tiêm một liều.
  • Thời điểm tiêm: tùy thuộc vào việc chọn thời điểm cho cá đẻ. Nếu muốn cho cá đẻ vào ban ngày, tiêm vào buổi sáng (6 – 7 giờ); cho cá đẻ vào ban đ ê m, tiêm kích dục tố vào buổi chiều hoặc tối (18 – 20 giờ).

c. Phương tiện cho cá đẻ

  • Có thể cho cá đẻ trên bể xi măng có diện tích vài m2, chiều sâu mức nước 0,2 – 0,5m, hoặc cho đẻ trong thau có thể tích 20 lít.
  • Bể hoặc thau bố trí cho cá đẻ phải đặt nơi yên tĩnh, thoáng mát và có mái che nếu cho cá đẻ vào ban ngày.

d. Bố trí cho cá đẻ: Sau khi tiêm kích dục tố xong thả cá vào bể hoặc thau đã vệ sinh và cho nước sạch vào, có thể bố trí cho đẻ với nhiều cặp cá bố mẹ trên cùng một bể xi măng hoặc bố trí riêng từng cặp trong thau.

e. Tỷ lệ đực/cái: Bố trí 1 cá đực cho 1 cá cái, trường hợp cá đực nhiều có thể bố trí 3 cá đực cho 2 cá cái, cá đực nhiều rất tốt cho sự thụ tinh.

f. Mật độ: Có thể thả chung 3 – 4 kg/m 3 nước hoặc cho 1 - 2 cặp cá vào trong một thau.

g. Các dấu hiệu nhận biết cá sinh sản hay không: Khi thả cá vào bể đẻ nếu sau 2 – 3 giờ cá rượt đuổi nhau, mặt nước gợn sóng là dấu hiệu cá sẽ đẻ, lúc này cần theo dõi cá nhảy ra ngoài do những con chưa sẵn sàng tham gia sinh sản phải bắt thả trở lại; ngược lại cá không rượt đuổi nằm im một chỗ, đây là dấu hiệu cá sẽ không đẻ.

h. Thời gian hiệu ứng

  • Trong điều kiện nhiệt độ 26 – 28 o C cá sẽ đẻ sau khi tiêm kích dục tố 8 – 10 giờ.
  • Dấu hiệu cá đẻ xong: khi thấy cá không còn rượt đuổi bắt cặp, cá nằm im hoặc bơi phân tán, lúc này tiến hành thu trứng chuyển đi ấp.

3. Ấp trứng

a. Bể ấp

  • Có thể dùng bể xi măng hoặc thau cho cá đẻ để ấp trứng. Dụng cụ ấp trứng phải vệ sinh sạch, đặt nơi thoáng mát để dễ chăm sóc và quản lý. Cá sinh sản xong, tiến hành dùng vợt bằng lưới mùng vớt trứng chuyển qua thau hoặc bể khác có nước sạch để ấp.
  • Nếu dùng bể, thau vừa cho cá sinh sản xong để ấp, phải chuyển trứng và cá bố mẹ sang nơi khác, vệ sinh sạch cho nước mới vào và cho trứng vào ấp. Trường hợp không có phương tiện dự phòng để chuyển trứng đi, sau khi chuyển cá bố mẹ về ao nuôi vỗ, có thể thay 2/3 thể tích nước cũ và tiến hành ấp trứng. Hình thức này trứng bị hao hụt do việc di chuyển cá bố mẹ đi sẽ làm bể trứng và điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo.

b. Nước sử dụng: Sử dụng nước sông hoặc nước máy đều phải để lắng sau 24 giờ vì nếu sử dụng trực tiếp nước sông phù sa sẽ ảnh hưởng đến hô hấp của phôi, nước máy có chất sát trùng làm chết phôi.

c. Mật độ ấp

  • 3.000 trứng/lít nước trong điều kiện nước tĩnh.
  • 6.000 trứng/ lít nước có sục khí.

d. Chăm sóc trứng: Trong suốt quá trình ấp trứng không thay nước. Nếu trường hợp ấp không có sục khí mà tỷ lệ trứng không thụ tinh (trứng có màu trắng đục) cao có thể làm nhiễm bẩn môi trường do trứng ung, trường hợp này xảy ra thay ½ lượng nước, ngược lại nếu có sục khí không cần thay nước.

e. Thời gian nở: Ấp trứng trong điều kiện nhiệt độ 26,5 – 28 o C sau 17 giờ 30 cá sẽ nở, 3 ngày sau khi cá nở chuyển đi ương.

III. Kỹ thuật nuôi cá rô đồng thịt

1. Điều kiện ao nuôi

  • Diện tích : 500 – 1.000 m 2 , có thể nuôi ở diện tích lớn hơn.
  • Sâu 1,2 - 1,5 m.
  • Do thức ăn động vật chiếm tỷ lệ cao nên môi trường dễ bị nhiễm bẩn, do đó ao nuôi phải gần nguồn nước và có cống để chủ động cấp thoát nước.
  • Mặt ao phải thoáng, không có bóng cây che, bờ ao không bụi rậm.
  • Bờ ao cao hơn mực nước cao nhất trong năm là 0,5 m nên có lưới bao quanh có chiều cao 0,2 - 0,4 m phòng ngừa cá ra ngoài, đặc biệt cần lưu ý trong giai đoạn cá chuẩn bị sinh sản.
  • Trước khi thả cá, ao phải được cải tạo bằng các biện pháp kỹ thuật như ao ương cá giống nhưng không cần phải bón phân.
  • Sau khi cải tạo 3 - 5 ngày tiến hành thả cá nuôi.

2. Cá giống

a. Kích cỡ: Cá giống nuôi thành cá thịt có kích thước 3 - 5 cm, có trọng lượng trung bình 300 - 500 con/kg.

b. Tiêu chuẩn: Cá mập, khoẻ, không xây xát, không dị hình, không bệnh tật, tương đối đồng cỡ.

c. Mật độ nuôi: Đây là loài cá có cơ quan thở khí trời nên có thể sống trong điều kiện môi trường chật hẹp; nhưng khi nuôi ở mật độ cao để cá phát triển tốt ao phải chủ động cấp thoát nước. Ao có thể thả nuôi mật độ 30 - 40 con/m 2 .

d. Thả cá nuôi: Thời điểm thả cá nuôi trong năm : trong điều kiện sản xuất giống nhân tạo, cá rô có thể thả nuôi quanh năm nếu chủ động được nước và con giống, trong một ao có thể nuôi 2 vòng trong năm.

e. Cách thả cá nuôi

  • Thả cá vào ao nuôi lúc sáng sớm hay chiều mát nhằm tránh nhiệt độ cao của môi trường sẽ ảnh hưởng xấu đến cá do cá bị mệt trong quá trình vận chuyển
  • 15 phút tạo cân bằng nhiệt độ nước bên trong bao và ngoài ao nuôi tránh cá bị sốc do chênh lệch nhiệt độ. Khi thả, mở miệng bao cho cá ra từ từ.

f. Thức ăn

  • Cho cá rô ăn gồm : cám, tấm + bột cá (cá tươi hoặc các phế phẩm của nhà máy chế biến thủy sản) xay nhỏ, cách cho ăn như sau :
  • Thành phần : 60% cám + 40% bột cá hay cá tươi xay …
  • Khẩu phần : 5 - 7% trọng lượng đàn cá/ngày.
  • Cách cho ăn : thức ăn được kết dính bằng bột gòn hay nấu chín, vò viên và đặt trong sàn ăn. Sàn ăn được đặt cố định trong ao, nên đặt nhiều sàn ăn tránh sự cạnh tranh làm thức ăn rơi rớt do lượng cá tập trung nhiều vào một chỗ, khoảng cách giữa hai sàn ăn 5 - 7 m. Mỗi ngày cho ăn 2 lần sáng sớm và chiều mát, mỗi lần 1/2 khẩu phần ngày.

3. Chăm sóc và quản lý

  • Thường xuyên kiểm tra cống, lưới bao quanh bờ ao nếu có hư rách phải sửa vá ngay, đặc biệt chú ý vào giai đoạn mang trứng cá có thể dùng nắp mang leo lên bờ thoát ra ngoài.
  • Trên mặt nước ao thả 1/10 diện tích rau muống hay bèo lục bình để hấp thu dinh dưỡng dư thừa, hạn chế ô nhiễm môi trường nước trong ao.
  • Thường xuyên kiểm tra tình hình ăn thức ăn của cá để điều chỉnh cho hợp lý, biện pháp này áp dụng như kỹ thuật ương cá giống.
  • Nước trong ao rất dễ bị nhiễm bẩn do thức ăn tạo nên, do đó tốt nhất nên thay nước hàng ngày theo thủy triều, nếu ao xa nguồn nước định kỳ 10 - 15 ngày thay 1/2 lượng nước trong ao.
  • Hàng ngày kiểm tra tình hình hoạt động của cá để phát hiện sớm nếu có dịch bệnh xảy ra.

4. Thu hoạch

Sau 4 - 5 tháng nuôi cá đạt trọng lượng 50 - 100 g/con, tiến hành thu hoạch bằng hai cách:

  • Thu hết một lần : tát cạn ao, bắt hết cá. Ao được cải tạo lại chuẩn bị cho việc nuôi đợt tiếp.
  • Thu tỉa : có thể dùng lưới kéo hay tát cạn bắt những con cá lớn có giá trị thương phẩm cao để bán, những con cá còn nhỏ để lại nuôi tiếp. Hình thức này hiệu quả kinh tế mang lại cao hơn do con giống lớn, thời gian nuôi lần sau ngắn, nhưng do lượng cá còn lại ít nên chuyển sang nuôi ở một ao khác có diện tích nhỏ hơn để tận dụng ao cũ thả nuôi giống mới với số lượng lớn.
  • Năng suất : cá nuôi trong ao năng suất có thể đạt 2,5 đến trên 10 tấn/ha/năm.

IV. Một số bệnh thường gặp trên cá rô đồng

1. Bệnh do nấm thủy mi (nấm nước ở cá)

  • Bệnh nấm thủy mi gây tác hại lớn đối với nhiều loài cá nuôi ở giai đoạn cá con, cá thịt và trứng cá. Bệnh thường xảy ra vào mùa mưa và thời tiết lạnh khi nhiệt độ xuống thấp (18 - 200C), đặc biệt khi cá bị xây xát (do đánh bắt hoặc vận chuyển) hoặc do viêm nhiễm ngoài da (do bệnh ghẻ lở hoặc do ký sinh trùng ký sinh).
  • Dấu hiệu bệnh lý : khi cá bị nấm thủy mi ký sinh, trên da cá xuất hiện vùng trắng xám tua tủa những sợi nấm nhỏ, mềm tạo thành những búi trắng như bông có thể nhìn thấy bằng mắt thường (để cá bệnh trong nước dễ quan sát hơn).
  • Cách phòng trị : Dùng BKD 40 hay còn gọi là TCCA sản phẩm công ty Sinh học Hoàn Cầu dùng định kỳ 15 ngày /lần hoặc 1 tháng /lần phòng bệnh, liều lượng 0,2 – 0,6g/m3.
  • Phương pháp tắm nước muối cũng hiệu quả nhưng mất nhiều công, cá bệnh được tắm liên tục trong 3 - 5 ngày hoặc dùng muối ăn liều lượng 2 - 3 kg/m3 nước tắm cá trong 24 giờ, tắm cá liên tục trong 3 - 5 ngày.
  • Để phòng bệnh nấm thủy mi, ao ương nuôi phải được tẩy dọn kỹ sau mỗi vụ nuôi. Khi cá bị xây xát cần phải tắm muối trước hoặc dùng thuốc sát khuẩn khi thả nuôi.

2. Bệnh lở loét

Bệnh xuất hiện ở các loài cá lóc, rô đồng, cá trê, lươn, …

- Dấu hiệu bệnh lý : những dấu hiệu đầu tiên là cá ít ăn hoặc bỏ ăn, hoạt động lờ đờ, bơi nhô đầu lên mặt nước, da cá xẫm lại, có vết mòn màu xám hoặc các đốm đỏ phát triển ở đầu, thân, các vây và đuôi. Những vết loét dần dần lan rộng thành những vết loét rộng, vẩy rụng, xuất huyết và viêm. Những con cá bệnh nặng các vết loét lõm sâu tới xương. Giải phẩu các cơ quan nội tạng hầu như không biến đổi

- Cách phòng trị:

  • Dùng BKD40 lượng dùng 0,6 – 1g/m3 dùng liên tục trong 3 – 5 ngày, kết hợp với oxy viên cải tạo đáy ao, hoặc dùng vôi tạt xuống ao với liều lượng 2 kg/100 m3 , 2 tuần 1 lần.
  • Hoặc dùng muối ăn với liều lượng 2 - 3% tắm cho cá 5 - 15 phút.
  • Hoặc dùng thuốc tím với liều lượng 10 g/m3 tắm cho cá trong thời gian 10 - 30 phút.
  • Dùng kháng sinh có chứa Oxytetracyline, trộn vào thức ăn cho cá ăn liên tục 5 ngày.

Biotech-VET tổng hợp.

 

Bình luận bài viết
Bài viết liên quan
Đăng ký email để nhận bản tin
Nhathuocthuy.vn
Copyright 2016 © Nhathuocthuy
Nhà máy sản xuất: Tdp Hoà Bình (Khu Dâu Tằm), phường Biên Giang, quận Hà Đông, TP. Hà Nội
Điện thoại: 0973 903 952 - 0975 280 111 Website: www.nhathuocthuy.vn
Số chứng nhận ĐKKD: 0101654633
Lượt truy cập: 0730939
Số người đang xem: 020