Cẩm nang thuốc thú y Mẹo sử dụng thuốc thú y
Tác dụng của khoáng chất đối với vật nuôi
(05/07/2018)

Người chăn nuôi cần hiểu về vai trò của các loại khoáng chất đối với đàn vật nuôi để bổ sung phù hợp.

1. Sodium và Chlorine (NaCl)

Đây là 2 yếu tố cần thiết để duy trì sự cân bằng áp suất thẩm thấu của tế bào. Nồng độ NaCl trong máu là 9‰ đó là nồng độ tối hảo cho tế bào hoạt động được, trên hay kém hơn nồng độ này đều gây hại cho tế bào. Sử dụng bột cá mặn trong khẩu phần với lượng muối cao vượt quá nhu cầu (0,3 đến 1% tùy theo lứa tuổi và giống heo) có thể gây ngộ độc muối dẫn tới tiêu chảy, da lông xơ xác, chậm lớn. Heo con cần ít muối hơn heo lớn, heo nái tiết sữa cần nhiều muối hơn heo nái chửa, heo giống nội thích ăn mặn hơn giống ngoại nhập.

 

Chlorine là chất tạo nên HCl trong dịch vị có vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa thức ăn và diệt khuẩn ở dạ dày, khi thiếu HCl thú không tiêu hóa tốt thức ăn, heo ăn không ngon miệng, thường hay gặm cắn đuôi nhau chảy máu và mút máu nhau gây nhiễm trùng.

2. Canxi – Phospho

Đây là 2 chất cấu tạo nên khung xương và răng của heo từ giai đoạn bào thai đến trưởng thành. Trong xương có 99% lượng canxi, và 80% lượng phospho của toàn cơ thể, trong mô mềm và thể dịch có chứa 1% lượng canxi và 20% lượng phospho của toàn cơ thể. Sự tăng trưởng của xương ở giai đoạn bào thai và giai đoạn từ sơ sinh đến 4 tháng tuổi rất quan trọng: xương tăng trưởng đến đâu hệ cơ tăng trưởng theo, do đó quyết định lượng nạc trong cơ thể heo thịt. Nếu xương phát triển chậm (nhất là xương sống, xương dài) thì heo sẽ ngắn đòn, hệ cơ kém phát triển, lượng nạc trên quày thịt thấp. Vì vậy heo càng nhiều nạc càng cần nhiều Ca và P.

Canxi rất cần cho hoạt động của bắp cơ (co duỗi) và đặc biệt trên nái sau khi đẻ nếu thiếu canxi và glucose sẽ bị sốt sữa, trong trường hợp này cần bổ sung ngay calcium gluconate thì chứng sốt sữa sẽ khỏi, nái sẽ tiết sữa trở lại. Canxi còn có vai trò hoạt hóa một số enzyme, cân bằng ion ảnh hưởng đến sự thẩm thấu của tế bào.

Còn phospho cần cho việc cấu tạo nên sợi cơ hay các cấu trúc ADN, ARN, các đơn vị năng lượng ATP, ADP, AMP, Phospholip… đây là những chất vô cùng quan trọng của sự sống, sự phân bào, sự di truyền, sự trao đổi chất.

Sự huy động Canxi – Phospho cầnsự hỗ trợ của vitamin D, thiếu 3 yếu tố Canxi – Phospho – vitamin D là nguyên nhân gây ra bệnh còi xương, heo nuôi chậm lớn, không tăng trưởng tốt, các đầu xương dài phình to, thân xương nhỏ, dễ bị cong, biến dạng, hệ cơ kém phát triển, heo suy nhược dễ bị nhiễm bệnh, tỉ lệ chết cao, chất lượng thịt kém. Nhưng sự dư thừa canxi lại gây ảnh hưởng đến sự hấp thu kẽm, thường làm cho heo bị thiếu kẽm, đồng thời cũng làm tăng nhu cầu sinh tố K.

Trong thức ăn từ ngũ cốc có chứa một lượng Phospho hữu cơ mà heo không thể tiêu hóa được nên sẽ bị thải ra ngoài theo phân và gây ô nhiễm môi trường, khắc phục tình trạng này bằng cách bổ sung enzyme phytase.

Nếu khẩu phần chỉ thiếu canxi thì dùng bột vỏ sò, bột vôi chết, bột mai mực, nếu chỉ cần cung cấp thêm phospho thì dùng sodium polyphosphate. Nếu thiếu cả hai Canxi – Phospho thì dùng monocalciphosphate (MCP) hay dicalciphosphate (DCP) hay bột xương.
Tỉ lệ Canxi – Phosphothích hợp nằm trong khoảng 1,3:1 đến 1,7:1.

3. Lưu huỳnh

Heo thường sử dụng nhóm Lưu huỳnh hữu cơ như methionine, cystine, cystein, thiamine, biotin… Các chất này góp phần tạo protein, hormone, hương vị protein trong thịt khi xào nấu, giúp điều hòa hoạt động trao đổi chất của cơ thể và có nhiều trong lông và móng heo. Lưu huỳnh ở dạng vô cơ thường độc nên heo không có khả năng sử dụng dạng này để tổng hợp nên các axit amin vừa kể trên, nhưng nếu khẩu phần có cung cấp đủ methionine, cystine, cystein, thiamine, biotin… thì cơ thể sẽ không bị thiếu Lưu huỳnh.

4. Magie (Mg) và Kali (K)

Đây cũng là 2 chất khoáng cần cho sự cân bằng acid-base, cân bằng ion trong máu và thể dịch.

Kali có mối tương quan nghịch với Natri trong việc điều hòa sự thẩm thấu của tế bào: nếu thể dịch nhiều K thì tế bào thải nhiều Na và ngược lại. Thiếu K làm heo biếng ăn, sự co cơ yếu, đi đứng không vững, chậm lớn, tiêu chảy, tim và thận phì đại và có thể chết. Dư K làm tim đập chậm, thận dễ bị ngộ độc và có ảnh hưởng đến sự hấp thu, sử dụng Mg. Kali có chứa nhiều trong các loại mật đường, các loại rau cỏ và thường ít bị thiếu trong các loại thực liệu làm thức ăn chăn nuôi.

 

Mg có mối tương quan nghịch với Ca, thừa Mg sẽ làm cơ thể mất Ca, xương trở nên mềm dễ gẫy, ngược lại thiếu Mg khi khẩu phần có nhiều Ca làm Ca tích đọng bất thường trong mô mềm. Mg cũng giữ vai trò trong việc cấu tạo xương và răng, trong sự truyền thần kinh, hoạt hóa enzyme peptidase trong việc tiêu hóa protein, là thành phần quan trọng trong sự biến dưỡng tế bào (liên quan đến những enzyme xúc tác các phản ứng tạo ATP, ADP). Mg có nhiều trong cám gạo, cám lúa mì, bột xương, rau cỏ, bánh dầu mè, bột đầu tôm nên thức ăn cho heo thường cung cấp đủ Mg cho nhu cầu.

5. Sắt (Fe)

Đây là khoáng vi lượng cần thiết để tạo huyết sắc tố của hồng cầu, nên thiếu Fe là thiếu máu. Heo chỉ sử dụng Fe có hóa trị 2.

Heo con nuôi trên sàn 10 ngày tuổi thường bị thiếu sắt vì sữa mẹ không cung cấp đủ Fe mặc dù heo mẹ có thể đã được cung cấp một lượng Fe dư và điều này thường dẫn đến tình trạng heo mẹ bị ngộ độc Fe.

Thiếu Fe làm heo chậm lớn, tiêu chảy, da lông xơ xác, giảm khả năng sinh sản, dễ bị stress, dễ nhiễm bệnh. Thừa Fe cũng gây ngộ độc máu và làm gia tăng nhu cầu Phospho.

Fe có chưa nhiều trong các thức ăn thông thường của heo như bột cá, bột huyết, ngũ cốc, bột thịt, bột xương..

6. Kẽm (Zn)

Đây là một chất khoáng vi lượng có vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng của heo. Kẽm tham cấu tạo của một số enzyme cần cho sự biến dưỡng protein, carbonhydrate và lipid.

Nhiều yếu tố liên quan đến sự hấp thu Zn như: Cu, Acid phytic, Ca.. Khẩu phần có nhiều acid phytic, nhiều Ca sẽ gây thiếu Zn trên heo với những biểu hiện viêm da sừng hóa. Heo đực giống cần nhiều kẽm hơn heo nái và heo nuôi thịt, nái mang thai, nái nuôi con cần nhiều kẽm hơn nái khô.

7. Đồng (Cu)

 

Đây là một loại khoáng cần thiết cho việc tạo hồng cầu, tạo các loại enzyme quan trọng trong cơ thể và là yếu tố kích thích sự tăng trưởng, tăng sức đề kháng của cơ thể. Thiếu Cu sẽ gây thiếu máu, heo chậm lớn, da lông xù xì, hiệu quả sử dụng thức ăn kém, sức kháng bệnh kém, tăng chi phí thức ăn và điều trị bệnh.

8. Mangan (Mn)

Đây là chất khoáng vi lượng có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng vì nó góp phần vào việc tăng trưởng hệ cơ xương, thiếu sẽ làm xương biến dạng, nhỏ, cong vẹo, heo chậm lớn, và tỉ lệ nạc trên quày giảm, heo nái sinh ra con có vóc dáng nhỏ, heo đực giảm năng suất. Mn có nhiều trong cám gạo, cám mì, rau cỏ, bột cá và premix.

9. Iod (I2)

Đây là yếu tố cấu tạo nên kích thích tố tuyến giáp trạng (Thyroxine), hormon này chi phối hoạt động trao đổi chất trong cơ thể. Thiếu Iod làm cho tuyến giáp trạng tăng sinh tế bào để tăng khả năng lọc iot trong máu và sự phì đại này gây bướu cổ, heo có xu hướng chậm lớn, tích mỡ, nạc ứ nước kém chất lượng, da lông xơ xác, trên nái xảy ra tình trạng tiêu phôi, thai chết khô, xảo thai, chu kỳ động dục bất thường, heo con sơ sinh không có lông, heo đực giống giảm tính hăng và phẩm chất tinh dịch kém, độ thụ tinh thấp. Dư Iod thì cường độ trao đổi chất quá mạnh heo tiêu hao nhiều năng lượng làm heo gầy còm, thịt khô, sợi cơ dai, nếu quá dư iot thì sẽ gây ngộ độc, ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và sinh sản (chậm lớn, xảo thai..). Thiếu iot và vitamin A cùng lúc sẽ làm trầm trọng thêm những tổn hại cho heo nuôi. Vì vậy việc bổ sung Iod sao cho vừa đủ nhu cầu là điều rất cần thiết.

KI là dạng vô cơ thường được sử dụng nhiều trong chăn nuôi.

10. Selenium (Se)

Đây là loại khoáng vi lượng có vai trò quan trọng trong việc chống lại tác hại của các gốc tự do phát sinh trong cơ thể. Thiếu Se sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của hệ cơ, gây ra bệnh cơ trắng tương tự như thiếu vitamin E. Vì vậy việc nuôi heo thịt cao sản cần cung cấp đủ cả 2 yếu tố này để đảm bảo thịt ngon. Tuy nhiên nếu vượt quá nhu cầu sẽ gây ngộ độc làm heo suy nhược, chán ăn, chậm lớn, dễ nhiễm bệnh và gia tăng chi phí sản xuất. Việc pha trộn không đều trong thức ăn dễ dẫn đến sự ngộ độc.

11. Fluor (F)

Đây là một chất khoáng cần thiết cho sự phát triển bền vững của xương và răng, thiếu Fluor làm cho xương và răng mềm, nếu dư cũng sẽ làm xương và răng dễ gãy hoặc gây viêm nướu răng.

Fluor có nhiều trong đất, nó có thể hòa tan vào nước hoặc mô thực vật gây tình trạng ngộ độc cho động vật và người.

Fluor có nhiều trong bột cá và thường thì không cần bổ sung vào thức ăn. Cần chú ý khi dùng bột xương còn chưa nấu chín thì hàm lượng Fluor còn cao sẽ gây ngộ độc hoặc sẽ làm thú chán ăn.

12. Chromium (Cr)

 

Đây là một vi khoáng có vai trò kích hoạt hormone insuline của tuyến tụy để làm hạ lượng đường trong máu, gia tăng sử dụng đường glucose ở tế bào và do đó giảm sự tích mỡ, tăng lượng nạc của toàn quày thịt. Nếu heo thịt khỏe mạnh, hoạt tính insuline tốt, bổ sung Cr sẽ cho kết quả không rõ ràng mà chỉ làm tăng chi phí sản xuất.

BiotechViet tổng hợp

Bình luận bài viết
Bài viết liên quan
Đăng ký email để nhận bản tin
Nhathuocthuy.vn
Copyright 2016 © Nhathuocthuy
Nhà máy sản xuất: Tdp Hoà Bình (Khu Dâu Tằm), phường Biên Giang, quận Hà Đông, TP. Hà Nội
Điện thoại: 0973 903 952 - 0975 280 111 E-mail: info.btv@dtk.com.vn
Website: www.nhathuocthuy.vn
Số chứng nhận ĐKKD: 0101654633
Lượt truy cập: 0258375
Số người đang xem: 012